Thứ Tư, 29 tháng 10, 2008

Phan tich ky thuat

hom nay vua hoc xong bai phan tich ky thuat thay cung kha hay va de hieu. Nen post len blog choi vui.

Trong phan 1 nay minh viet luon khong gioi thieu qua lich su hinh thanh gi ca cua phan tich ky thuat. heee... Rat vui duoc cac ban gop y.

Phan1:
Các khái niệm và công cụ cơ bản sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật.

Các loại biểu đồ.


Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).

Biểu đồ dạng đường (Line chart).


Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa hock kỹ thuật phát triển, diễn biến của Thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất la trên các Thị trường chứng khoán hiện đại. Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay. Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán hiện đại ngày nay thường diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):

chart11.png

Đồ thị biến động VNIndex


(tính đến ngày 18/01/2007 - bsc.com.vn)

Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ trong Phân tích kỹ thuật mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart và Candlestick chart.


Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):

ge2007.png


Cổ phiếu General Electric

Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán.


Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:


untitled.JPG

loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.


Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart):

sc.bmp


Đồ thị biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007


(nguồn: http://www.stockcharts.com)

Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó được người Nhật Bản khám phá và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên. Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.


Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:


untitled2.JPG

(còn tiếp)


Thứ Ba, 21 tháng 10, 2008

Kiểm soát nội bộ Phần 3: Kiểm soát Mua hàng (Cập nhật: 21.10.2008 09:35)

Xem hình

3.1 Chỉ người có thẩm quyền mới lập phiếu đề nghị mua hàng

3.1.1 Rủi ro

Người không có thẩm quyền có thể vẫn đề nghị mua hàng được.

3.1.2 Giải pháp

Công ty nên chuẩn hoá và đánh số trước các phiếu đề nghị mua hàng của từng phòng ban đề nghị mua hàng như là một biện pháp kiểm soát các phiếu đề nghị mua hàng hiện tại để đảm bảo rằng hàng đề nghị mua được đặt hàng và hàng được nhận chính xác. Phiếu này phải được người có thẩm quyền ký duyệt và phải được đối chiếu đến tài khoản trên sổ cái để người đề nghị mua hàng có trách nhiệm về ngân sách chi.

Việc mua hàng chỉ được tiến hành khi trình phiếu đề nghị mua hàng được uỷ quyền.

3.2 Ngăn chặn gian lận trong việc đặt hàng nhà cung cấp

3.2.1 Rủi ro

Nhân viên mua hàng gian lận trong việc đặt hàng chẳng hạn đặt hàng mà nhân viên này sử dụng cho mục đích riêng và có thể trình hoá đơn để được thanh toán liên quan đến khoản mua hàng hư cấu đó.

3.2.2 Giải pháp

Nên tách biệt chức năng đề nghị mua hàng và chức năng đặt hàng. Nói cách khác, mọi việc mua hàng chỉ do phòng thu mua tiến hành và phòng thu mua phải độc lập với các phòng khác.

Phòng thu mua chỉ nên đặt hàng nhà cung cấp khi nhận được phiếu đề nghị mua hàng tiêu chuẩn đã được người có thẩm quyền ký duyệt. Đơn đặt hàng phải được đánh số trước và tham chiếu đến số của phiếu đề nghị mua hàng, và cung cấp các thông tin liên quan đến hàng hoá/dịch vụ, số lượng, giá cả, quy cách, v.v…. Các liên của đơn đặt hàng này nên được chuyển đến phòng nhận hàng, phòng kế toán và phòng đề nghị mua hàng để giúp kiểm tra nhận hàng và thanh toán sau đó.

3.3 Kiểm soát việc nhận tiền hoa hồng không được phép từ nhà cung cấp

3.3.1 Rủi ro

Nhân viên mua hàng có thể chọn nhà cung cấp mà không bán hàng hoá/dịch vụ phù hợp nhất hoặc ở mức giá thấp nhất có thể vì nhân viên này nhận tiền hoa hồng không được phép từ nhà cung cấp.

3.3.2 Giải pháp

Công ty nên áp dụng cách thức đòi hỏi ít nhất ba báo giá từ ba nhà cung cấp độc lập đối mỗi khi mua hàng hoặc với mỗi khoản mua hàng trên một mức nào đó.

Công ty nên hoán đổi vị trí các nhân viên mua hàng để tránh tình trạng một người có quan hệ với một số nhà cung cấp nhất định trong một thời gian dài. Ngoài ra, công ty nên áp dụng một chính sách kỷ luật chặt chẽ khi phát hiện nhân viên nhận tiền hoa hồng không được phép và nên định kỳ tiến hành kiểm tra việc này.

Công ty cũng nên áp dụng cách thức mà các phòng đề nghị mua hàng định kỳ cho ý kiến phản hồi về hoạt động của phòng thu mua.

3.4 Nhận đúng hàng

3.4.1 Rủi ro

Nhân viên nhận hàng có thể nhận sai hàng - chẳng hạn như hàng hoá sai về số lượng, chất lượng hay quy cách.

3.4.2 Giải pháp

Nên tách biệt chức năng nhận hàng với chức năng đề nghị mua hàng, khi có thể được, và chức năng đặt hàng.

Nhân viên nhận hàng, thường là thủ kho ở một số công ty, chỉ nên nhận hàng khi đã nhận được đơn đặt hàng hợp lệ do phòng thu mua gửi đến. Những biên bản nhận hàng được đánh số từ trước nên được lập mỗi khi nhận hàng từ nhà cung cấp.

Nhân viên nhận hàng nên thực hiện các biện pháp thích hợp để đo lường hàng hoá nhằm đảm bảo hàng hoá thực nhận đồng nhất với đơn đặt hàng về từng quy cách. Một nhân viên kiểm tra chất lượng độc lập nên hỗ trợ việc nhận hàng nếu các quy cách quá phức tạp mà nhân viên nhận hàng không thể đánh giá chính xác được. Biên bản nhận hàng nên có một mục chỉ rõ đã kiểm tra chất lượng, nếu thấy phù hợp.

Một liên của biên bản nhận hàng sau khi đã hoàn thành và ký xong nên được gửi cho phòng kế toán để làm chứng từ hạch toán và gửi cho phòng đề nghị mua hàng để làm bằng chứng về quy trình mua hàng đã hoàn thành.

3.5 Ngăn chặn hoá đơn đúp hoặc hoá đơn giả do nhà cung cấp phát hành

3.5.1 Rủi ro

Nhà cung cấp có thể phát hành và gửi hoá đơn ghi sai số lượng, giá trị hoặc phát hành hoá đơn đúp.

3.5.2 Giải pháp

Khi công ty nhận được hoá đơn của nhà cung cấp, tất cả các hoá đơn nên được đánh số theo thứ tự để việc sau đó việc kiểm tra về tính liên tục của các số hoá đơn có thể giúp xác định việc tất cả các hóa đơn nhận được đã được hạch toán.

Một biện pháp kiểm soát tốt cũng bao gồm việc đóng dấu lên hoá đơn để ghi rõ số tham chiếu của đơn đặt hàng và biên bản nhận hàng, mã tài khoản, nếu phù hợp, và tên viết tắt của nhân viên thực hiện việc kiểm tra này. Việc này sẽ giúp ích cho quá trình đối chiếu chứng từ.

Kế toán nên kiểm tra các chi tiết của hoá đơn so với đơn đặt hàng và biên bản giao hàng liên quan và lưu giữ chung các chứng từ này. Việc này đảm bảo là tất cả các hoá đơn, vốn là cơ sở để thanh toán cho nhà cung cấp, sẽ liên quan đến những giao dịch mua hàng hợp lệ và nhận đúng hàng.

3.6 Thanh toán mua hàng chính xác

3.6.1 Rủi ro

Khi thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi hoặc bằng phiếu chi tiền mặt có thể có thanh toán nhầm nhà cung cấp, hoặc với chữ ký được uỷ quyền không đúng, hoặc đề xuất thanh toán các khoản giả mạo hoặc cho người giả mạo hoặc hoá đơn bị thanh toán hai lần liền.

3.6.2 Giải pháp

Phòng kế toán, hoặc đối với một số công ty là bộ phận công nợ phải trả của phòng kế toán, nên lưu giữ một danh sách các ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn, kế toán phải trình không chỉ hoá đơn mà cả đơn đặt hàng và biên bản nhận hàng cho người có thẩm quyền ký duyệt thanh toán.

Phòng mua hàng nên có trách nhiệm thông báo cho phòng kế toán về bất kỳ thay đổi gì liên quan đến việc mua hàng mà có thể dẫn đến thay đổi thanh toán, chẳng hạn như thời hạn thanh toán, chiết khấu, hàng mua bị trả lại, v.v….. Ngoài ra, bất kỳ thay đổi nào như thế cần sự uỷ quyền thích hợp trước khi thay đổi việc thanh toán.

Tất cả các séc, uỷ nhiệm chi và phiếu chi tiền mặt nên được đánh số trước.

Hoá đơn đã thanh toán nên được đóng dấu “Đã thanh toán” và số thứ tự của các séc, uỷ nhiệm chi và phiếu chi tiền mặt nên được ghi lại.

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2008

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ SCF (Statement of Cash Flows)

Dòng lưu chuyển tiền tệ đặc biệt quan trọng đối với một doanh nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động của mình, thay thế các tài sản cần thiết, tận dụng các cơ hội của thị trường và chi trả cổ tức cho các cổ đông. Một số chuyên gia còn cho rằng “dòng tiền là vua” (“cash flow is king”).

Bảng lưu chuyển tiền tệ cho biết khả năng tạo tiền, tình hình quản lí các tài sản và trách nhiệm pháp lí ngoài vốn hiện thời, chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản suất và các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Nó cho phép cả các nhà quản lí cũng như các nhà nghiên cứu trả lời được những vấn đề quan trọng liên quan đến tiền như:

• Liệu doanh nghiệp có đủ tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn cho nhà cung cấp và những chủ nợ khác mà không phải đi vay không?
• Doanh nghiệp có thể quản lí được các tài khoản phải thu, bảng kiểm kê, ...
• Doanh nghiệp có những khoản đầu tư hiệu quả cao không?
• Doanh nghiệp có thể tự tạo ra được dòng tiền tệ để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết mà không phụ thuộc vào vốn từ bên ngoài không?
• Doanh nghiệp có đang thay đổi cơ cấu nợ không?

Bảng lưu chuyển tiền tệ (SCF) cung cấp thông tin liên quan ba hoạt động chính tạo ra và sử dụng tiền là: hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư.

Bảng lưu chuyển tiền tệ có liên quan mật thiết với bảng CĐKT và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cần các dữ liệu từ:
- Bảng CĐKT dùng để thu thập dòng tiền từ tất cả các hoạt động. Để quá trình này được dễ dàng nên tính toán thay đổi từ thời điểm đầu kì đến thời điểm cuối kì của mỗi khoản.
- Một báo cáo kết quả hoạt động SXKD sử dụng ban đầu để thu thập các dòng tiền từ hoạt động SXKD.
- Các chi tiết phụ khác liên quan đến một số tài khoản phản ánh vài loại giao dịch và vấn đề khác nhau. Việc nghiên cứu các tài khoản riêng biệt là cần thiết bởi thường tổng số thay đổi của cân bằng TK trong năm không chỉ ra được bản chất thực của dòng tiền.

I. Phân chia các dòng tiền trong bảng lưu chuyển tiền tệ:

Về cơ bản, bảng lưu chuyển tiền tệ giải thích sự vận động tiền tệ từ cân bằng tiền đầu kì đến mức cân bằng cuối kì (tiền tệ bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền như đầu tư ngắn hạn, các khoản đầu tư có độ thanh khoản cao, thông thường là các khoản đầu tư đáo hạn dưới ba tháng.

Các dòng tiền trong bảng lưu chuyển tiền tệ được chia thành 3 loại:

1. Dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh:

Là các dòng tiền ra và vào trực tiếp liên quan đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được ghi nhận trên bảng thu nhập. Có hai phương pháp trình bày hoạt động sản xuất được sử dụng là:

1.1. Phương pháp trực tiếp: báo cáo các dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh được liệt kê theo từng khoản thu và chi trả:

Dòng tiền vào:
- tiền thu bán hàng
- tiền thu từ các khoản nợ phải thu
- tiền thu từ các khoản thu khác

Dòng tiền ra:
- tiền đã trả cho người bán
- tiền đã trả cho công nhân viên
- tiền đã nộp thuế và các khoản kác cho Nhà nước
- tiền đã trả cho các khoản nợ phải trả khác
- tiền đã trả cho các khoản khác

Chênh lệch giữa dòng tiên vào và dòng tiền ra được gọi là lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.2. Phương pháp gián tiếp:

Điều chỉnh thu nhập ròng bằng việc giảm thiểu các khoản mục phi tiền tệ để tính toán dòng tiền vào (ra) ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Cần chú ý giữa thu nhập và dòng tiền có sự khác nhau, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được ghi nhận tích luỹ, cả doanh thu và chi phí đều được ghi nhận khi có nghiệp vụ phát sinh, không quan tâm đến thời điểm phát sinh dòng tiền.

Hiện nay, các doanh nghiệp hầu hết đều sử dụng phương pháp gían tiếp. Tuy nhiên cần ghi nhớ rằng, hai phương pháp trên là những cách chuyển đổi đơn giản cho kết quả giống nhau.

2. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:

Là các dòng tiền vào ra liên quan đến việc mua và thanh lí các tài sản sản xuất kinh doanh do công ty sử dụng hoặc đầu tư vào các chứng khoán của công ty khác.

Dòng tiền ra phản ánh các khoản đầu tư tiền mặt toàn bộ để có được các tài sản này. dòng tiền vào chỉ được ghi nhận khi nhận được tiền từ việc thanh lí các tài sản đầu tư trước. Các dòng tiền từ hoạt động đầu tư gồm:

Dòng tiền vào:

Tiền thu từ:
- các khoản đầu tư vào đơn vị khác
- lãi các khoản đầu tư vào đơn vị khác
- bán tài sản cố định

Dòng tiền ra:

Tiền trả cho:
- đầu tư vào các đơn vị khác
- mua tài sản cố định

Chênh lệch giữa dòng tiền ra và vào gọi là lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư.

3. Dòng tiền từ hoạt động tài chính:

Bao gồm dòng tiền ra và vào liên quan đến các nghiệp vụ tiền tệ với các chủ thể ngoài doanh nghiệp ( từ các chủ sở hữu và chủ nợ ) tài trợ cho doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp. Dòng tiền vào ghi nhận các hoạt động tài chính nhận tiền từ chủ sở hữu vốn và chủ nợ. Dòng tiền ra ngược lại. Các hoạt động đó gồm:

Dòng tiền vào:

Tiền thu:
- do đi vay
- do các chủ sở hữu góp vốn
- từ lãi tiền gửi

Dòng tiền ra:

- tiền đã trả nợ vay
- tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu
- tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vao doanh nghiệp

Số chênh lệch dòng tiền ra và vào gọi là: lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính.

II. Mối liên hệ giữa dòng tiền và các hoạt động sản xuất kinh doanh:

Phần hoạt động tài chính của bảng lưu chuyển tiền tệ tập trung vào khả năng tạo tiền qua hoạt động sản xuất kinh doanh và việc quản lí các tài sản và trách nhiệm pháp lí ngoài vốn hiện tại của doanh nghiệp (hay vốn hoạt động). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là phần quan trọng nhất của bảng bởi vì xét trong thời gian dài, hoạt động sản xuất kinh doanh là nguồn duy nhất tạo ra tiền. Các nhà đầu tư sẽ không đầu tư vào một công ty nếu họ thấy nó không có khả năng chi trả cổ tức cho họ hoặc nó không thể tái đầu tư từ số tiền thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tương tự, các chủ nợ cũng không cho công ty đó vay nợ.

Để đánh giá mối liên hệ giữa dòng tiền và các hoạt động sản xuất kinh doanh, ta lần lượt xem xét các mối liên hệ sau:

1. Các tài khoản phải thu và lưu chuyển tiền tệ:

Sự thay đổi của các TK phải thu có thể là yếu tố quyết định đến dòng lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh của cty. Theo phương pháp gián tiếp, doanh thu bán hàng tích luỹ thường gồm các khoản doanh thu không phát sinh tiền, nó tạo nên sự thay đổi trong cân bằng của các TK phải thu. Khi doanh thu được ghi nhận, TK phải thu tăng và khi tiền thu về, TK phải thu giảm. Chúng ta có thể đưa ra nguyên tắc sau:

Khi có một sự giảm trong TK phải thu, lượng tiền thu từ khách hàng luôn lớn hơn doanh thu tích luỹ, do vậy, số giảm phải được tính vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khi có một sự tăng của TK phải thu, lượng tiền thu từ khách hàng luôn nhỏ hơn doanh thu tích luỹ, do vậy, số tăng phải ghi giảm trừ vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ví dụ: bảng cân đối kế toán: TK phải thu có SDDK: 70 triệu, SDCK: 105tr -> số tăng trong kì: 35tr, lượng tiền thu được ít hơn doanh thu. Do đó để phản ánh lượng tiền vào ít hơn, lượng tăng phải được trừ vào lợi nhuận kinh doanh để chuyển lợi nhuận sang dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.

2. Hàng tồn kho và lưu chuyển tiền tệ:

Sự thay đổi của hàng tồn kho cũng là một yếu tố chính ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh chi phí mua hàng trong thời kì, trong khi đó SFC phản ánh số tiền trả cho người cung cấp trong cùng kì. Chi phí này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượng tiền trả. Do hầu hết hàng hoá mua theo phương pháp mua chịu, để cân bằng chi phí mua hàng với số tiền trả cho nhà cung cấp đòi hỏi việc xem xét những thay đôỉ trong cả TK hàng hoá và TK phải trả. Cách đơn giản nhất để ghi nhận ảnh hưởng của những thay đổi hàng tồn kho là khi mua hàng (lượng hàng tồn kho tăng cuối cùng dẫn đến giảm lượng tiền và khi bán hàng dẫn đến giảm hàng tồn kho và tăng lượng tiền. Tương tự, khi vay của nhà cung cấp dẫn đến tăng lượng tiền phải trả, tăng tiền và khi trả, giảm khoản phải trả, giảm tiền. Một sự tăng hoặc khoản phải trả phải được ghi giảm hoặc ghi thêm vào dòng lưu chuyển tiền tệ.

3. Chi phí trả trước và dòng lưu chuyển tiền tệ:

Theo phương pháp kế toán ghi tích luỹ, tổng số chi phí phải trả có thể khác với dòng tiền liên quan đến chi phí trả trước. Một số chi phí được thanh toán trước khi nó được ghi nhận (VD: tiền thuê trả trước). Khi thực hiện thanh toán, cân bằng TK chi phí trả trước tăng, khi chi phí được ghi nhận, chi phí trả trước giảm.

Khi có một sự giảm trong TK chi phí trả trước hoặc TK tài sản sản xuất kinh doanh, số tiền chi phí trả trước luôn nhỏ hơn chi phí trả đúng hạn, do đó, khoản giảm phải được ghi thêm vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nó phải ghi trừ.

Chú ý: một sự tăng trong TK hàng hoá không dự tính trước có thể là một nguyên nhân khác làm kết quả kinh doanh vượt quá tốc độ dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự gia tăng hàng hoá có thể là một dấu hiệu cho thấy lượng tăng doanh thu theo kế hoạch không được thực hiện.

4. Mối liên hệ giữa dòng tiền và các tài sản hiện tại khác và các tài sản khác:

Các tài sản hiện tại khác luôn gồm những khoản hoạt động như lãi suất phải thu. Những tài sản khác (không phải tài sản hiện tại) có thể hoặc không thể gồm những khoản hoạt động như những khoản phải thu dài hạn của khách hàng.
Tương tự với các khoản phải thu, khi các tài khoản này phản ánh một sự tăng ròng, số tiền thu được luôn nhỏ hơn doanh thu tích luỹ, khoản giảm được ghi trừ vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khoản thiếu hụt phải ghi thêm.
Với những tài sản gồm những tài sản không hoạt động như trang thiết bị thanh lí, sự thay đổi của nó không được coi thuộc khoản dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà nó ảnh hưởng đến dòng tiền từ hoạt động đầu tư.

5. Mối quan hệ giữa dòng tiền và các tài khoản phải trả:

Như đã nói trong phần trước, hầu hết hàng hoá đều được mua chịu. Do đó, khi việc mua hàng được ghi nhận, khoản phải trả tăng và khi trả tiền, khoản phải trả giảm. Khoản phải trả bằng lượng tiền công ty vay từ nhà cung cấp qua việc mua hàng.
Khi có sự tăng trong tài khoản phải trả, số tiền trả cho nhà cung cấp luôn nhỏ hơn giá trị số hàng mua trên tài khoản; do đó khoản tăng phải được cộng vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, và ngược lại.

6. Mối liên hệ giữa chi phí tích luỹ và dòng tiền:

Đối với một số chi phí được trả sau khi chúng được ghi nhận ( như chi phí tiền lương tích luỹ), khi chi phí được ghi nhận, cân bằng trong chi phí trách nhiệm pháp lý tích luỹ tăng, khi thanh toán, các chi phí này giảm.

Khi có sự tăng ròng trong khoản chi phí phải trả trong kì, số tiền trả cho chi phí luôn nhỏ hơn chi phí được ghi nhận; do đó, khoản tăng phải được ghi thêm vào dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khoản giảm được ghi trừ.
So sánh thu nhập ròng với dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Để đánh giá sự phù hợp giữa thu nhập ròng và dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Chất lượng tỉ lệ thu nhập = (Dòng tiền từ hoạt động SXKD / Thu nhập ròng)

Chỉ số này cho biết tỉ lệ thu nhập phát sinh từ tiền sau đó được sử dụng cho các hoạt động đầu tư mới hoặc trả nợ tài chính. Khi tỉ lệ này khác 1, cần phải tìm ra những nguồn gây ra sự khác nhau đó, liệu tỉ lệ này có thay đổi theo thời gian và nguyên nhân của sự thay đổi, những sự biến động của các khoản phải thu, hàng hoá và các khoản phải trả là bình thường không và có lời giải thích hợp lí cho những thay đổi này không.

i. Lãi hoặc lỗ từ việc bán tài sản, đất đai nhà xưởng và thiết bị: tổng số tiền thu được từ việc bán tài sản, nhà xưởng, đất đai, thiết bị nằm trong phần dòng tiền từ hoạt động đầu tư. Do lãi hoặc lỗ nằm trong thu nhập ròng để tránh tính toán ảnh hưởng của phần lãi lỗ này hai lần, cần phải loại bỏ khỏi phần dòng tiền từ hoạt động SXKD bằng việc trừ lãi hoặc cộng thêm lỗ.

ii. Thuế thu nhập thu sau: một sự tăng trách nhiệm pháp lý thuế đi kèm với một chi phí trong thời kì hiện tại. Bởi vì một khoản thuế tăng sẽ không dẫn đếnmột dòng tiền ra vào thời kì hiện tại, nó được cộng vào phần lãi lỗ trên bảng lưu chuyển tiền tệ. Các khoản thuế sẽ được cộng dồn vào và trả vào một thời điểm trong tương lai, tạo nên một dòng tiền ra. Khi đó số trách nhiệm pháp lí ngoài vốn giảm phải được trừ vào lãi lỗ trên bảng lưu chuyển tiền tệ .

iii. Thu nhập về vốn và những khoản lỗ đầu tư.

iv. Các khoản giảm trừ và dòng tiền.

Các khoản chi phí giảm trừ thường được gọi là chi phí phi tiền bởi nó không trực tiếp ảnh hưởng đến dòng tiền. Dòng tiền ra liên quan đến các khoản giảm trừ xảy ra khi có yêu cầu giảm tài sản liên quan. Vào mỗi thời kì ghi nhận khoản giảm trừ, không xảy ra việc thanh toán tiền. Hầu hết các chi phí khác đều gây ra dòng tiền ra. Ví dụ: chi phí lương. Một vài người nhầm lẫn rằng “giảm trừ sinh ra tiền” do họ thấy các khoản giảm trừ được cộng thêm vào phần dòng tiền từ hoạt động SXKD của bảng lưu chuyển tiền tệ. Khoản giảm trừ không phải là nguồn gốc của tiền, chỉ khi nào hàng hoá hoặc dịch vụ được mua hoặc bán thì nó mới phát sinh tiền. Một doanh nghiệp với một lượng giá trị chi phí giảm trừ lớn không tạo ra một lượng tiền lớn hơn so với một doanh nghiệp có chi phí giảm trừ nhỏ hơn (giả sử các khoản tạo dòng tiền khác giống nhau). Các khoản giảm trừ làm giảm lượng tiền phát sinh của doanh nghiệp bởi vì nó là chi phí phi tiền do đó trên bảng lưu chuyển tiền tệ chi phí giảm trừ được cộng vào thu nhập để tính dòng tiền từ hoạt động SXKD.

Đối với thuế: mặc dù các khoản giảm trừ là chi phí phi tiền nhưng thông qua thuế nó có ảnh hưởng đến dòng tiền. Các khoản giảm trừ là các chi phí có thể ảnh hưởng đến thuế thu nhập. Chi phí giảm trừ càng lớn thì thuế TN càng thấp. Do thuế được thu bằng tiền nên một sự giảm thuế dẫn đến tăng dòng tiền ra của doanh nghiệp.

III. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:

Phần này liên quan đến các tài khoản mua và thanh lí các công cụ sản xuất của doanh nghiệp, các khoản đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác và các khoản cho khách hàng vay. Các tài khoản trên bảng cân đối kế toán bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn và dài hạn và quyền sở hữu, đất đai nhà xưởng, thiết bị. Các mối quan hệ giữa các TK trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng lên dòng tiền thường gặp là:

Các TK liên quan trên bảng CĐKT
Hoạt động đầu tư
Ảnh hưởng dòng tiền
Quyền sở hữu đất đai, trang thiết bị
Mua

Bán
Dòng tiền ra

Dòng tiền vào
Các khoản đầu tư ngắn và dài hạn
Mua

Bán
Dòng tiền ra

Dòng tiền vào


Phần dòng tiền từ các hoạt động đầu tư cho thấy thông tin quan trọng về chiến lược của doanh nghiệp. Với nhiều doanh nghiệp, tỉ lệ tài sản hữu hình có thể cho thấy đó là các khoản đầu tư ít rủi ro. Khi một doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xây dựng công suất quá mức cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách hàng thì chi phí để duy trì và tài trợ cho dự án đó có thể đẩy doanh nghiệp đến phá sản.

Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng tỉ lệ nguồn vốn thu được để đánh giá khả năng tài trợ vốn để thực hiện dự án và mua thiết bị cho SXKD

Tỷ lệ nguồn vốn thu: dòng tiền từ hoạt động SXKD/ tiền chi cho dự án và trang thiết bị

IV. Dòng tiền từ hoạt động tài chính:

Phần này phản ánh những thay đổi trong hai khoản trách nhiệm pháp lí ngoài vốn, những chứng từ phải trả (hay các khoản nợ dài hạn), các khoản nợ dài hạn đến hạn trả cũng như những thay đổi của các tài khoản vốn cổ đông và trách nhiệm pháp lí dài hạn. Những TK trong bảng cân đối kế toán này liên quan đến việc phát hành và thanh toán ccác món nợ và cổ phiếu và chi trả các lợi tức. Các mối quan hệ chủ yếu bao gồm các mối quan hệ sau:

Các TK liên quan trên bảng SĐKT liên quan
Hoạt động tài chính
Ảnh hưởng dòng tiền
Giấy nợ NH
Phát hành giấy nợ nhận tiền

Thanh toán nợ
Dòng tiền ra

Dòng tiền vào
Nợ dài hạn
Phát hành trái phiếu nợ nhận tiền

Trả nợ
Dòng tiền ra

Dòng tiền vào
Cổ phiếu thông thường, vốn trả thêm
Phát hành cổ phiếu

Mua lại cổ phiếu bằng tiền
Dòng tiền ra

Dòng tiền vào
Thu nhập ch­ưa chia
Trả cổ tức
Dòng tiền ra


Các hoạt động tài chính liên quan đến phát sinh vốn từ các chủ nợ hoặc chủ sở hữu:
- Phát sinh từ phát hành khoản nợ ngắn và dài hạn: nhận tiền từ việc đi vay NH hoặc các tổ chức tín dụng khác hoặc phát hành trái phiếu ra công cộng. Nếu các khoản nợ được phát hành để nhận các tài sản khác không phải là tiền thì không được coi thuộc phần dòng tiền từ hoạt động tài chính của bảng lưu chuyển tiền tệ.
- Việc chỉ trả gốc các khoản nợ ngắn và dài hạn: các dòng tiền ra liên quan đến các khoản nợ gồm khoản tiền trả gốc thường kì cũng như việc trả nợ trước thời hạn. Phần tiền trả nợ gốc được coi là thuộc dòng tiền từ hoạt động tài chính, phần tiền trả lãi là dòng tiền từ hoạt động SXKD.
- Phát sinh từ phát hành cổ phiếu: liên quan đến các khoản tiền nhận từ việc bán các cổ phiếu thông thường cho nhà đầu tư. nó không gồm các khoản cổ phiếu phát hành chi trả cho các món khác không phải tiền như phát hành cổ phiếu trả lương công nhân.
- Mua cổ phiếu hoặc bán cổ phiếu: dòng tiền ra bao gồm khoản trả bằng tiền để mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp từ cổ đông.
- Tiền trả cổ tức: là khoản tiền trả cổ tức cho các cổ đông trong năm. Nhiều người phân vân tại sao khoản tiền lãi trả cho chủ nợ thuộc dòng tiền từ hoạt động SXKD còn tiền trả cổ tức lại thuộc dòng tiền từ hoạt động tài chính. Nhớ rằng lãi suất được ghi trên báo cáo kết quả kinh doanh trực tiếp liên quan đến thu nhập (là hoạt động SXKD). Còn cổ tức thì không bởi chúng là sự phân phối thu nhập.

Việc phát triển lâu dài của doanh nghiệp thường được tài trợ từ ba nguồn chính: tiền từ hoạt động SXKD của chính doanh nghiệp, từ phát hành cổ phiếu và từ vay mượn dài hạn. Các nguồn lực tài chính được sử dụng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến độ rủi ro và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Bảng lưu chuyển tiền tệ cho thấy ban quản lí đã lựa chọn phương cchs nào để tài trợ sự phát triển của doanh nghiệp. Các thông tin trên có thể giúp đánh giá cấu trúc vốn và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.

V. Kết luận:

Bảng lưu chuyển tiền tệ là một trong những bảng tài chính quan trọng của doanh nghiệp. Mục đích ban đầu của nó là cung cấp thông tin dòng tiền theo hướng tối đa hoá lợi ích với nhà đầu tư, các chủ nợ và những người khác quan tâm đến dòng tiền dự tính trong tương lai của doanh nghiệp.
Tác giả: Bùi Thị Huyền

Bản quyền 2006 | www.kiemtoan.com.vn
Theo Giấy phép sử dụng tài liệu công cộng Viet Management Group (VMPDL)

Harvard Business School trong dịp lễ kỷ niệm 100 năm tuổi

Tuần vừa qua, tại Trường Kinh doanh Harvard (HBS) đã diễn ra những hoạt động tưng bừng kỷ niệm 100 năm tuổi, phóng viên Prateek Kumar của tạp chí The Crimson Harvard tường thuật lại sự kiện này.

Nhân lễ kỷ niệm 100 năm thành lập, trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School – HBS) đã có vinh dự đón nhiều nhân vật xuất sắc, từ chủ tịch tập đoàn JPMorgan cho tới cựu chủ tịch tập đoàn Microsoft hay bộ trưởng tài chính Ấn Độ về dự, cùng sự hiện diện của hơn 1.600 cựu sinh viên và các vị khách mời danh dự.

Hiệu trưởng HBS Jay O. Light
phát biểu khai mạc Hội nghị
Thượng đỉnh Kinh doanh Toàn cầu...
... và Nguyên chủ tịch Microsoft Bill Gates trả lời phỏng vấn
Ảnh: HBS Centennial

Theo Phó Hiệu trưởng trường HBS và là chuyên gia marketing hàng đầu thế giới - Giáo sư John A. Quelch, tâm điểm của chuỗi sự kiện trong chương trình kỷ niệm kéo dài một năm nhân dịp trường tròn trăm tuổi chính là Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Toàn cầu (The HBS Global Business Summit) do chính HBS chủ trì.

Xuyên suốt sự kiện diễn ra từ ngày 11 - 14/10 này, các cựu sinh viên có cơ hội tham dự vào hơn 50 nhóm thảo luận chuyên đề, bao trùm các chủ đề từ loại hình doanh nghiệp xã hội cho tới kinh doanh nông nghiệp, cũng như nghe bản tham luận của Bill Gates và nhà báo Charlie Rose, hay tham gia vào hàng loạt hoạt động xã hội tổ chức tại khu Boston.

Mặc dù vào ngày 8/4 vừa qua, HBS đã tổ chức lễ kỷ niệm với sự tham dự của các sinh viên nhân ngày hội đồng trường Harvard chính thức bỏ phiếu thành lập Trường Kinh doanh Harvard – HBS, nhưng hội nghị tuần qua mới chính là lễ kỷ niệm chính thức ngày HBS khai giảng năm học đầu tiên cách đây vừa tròn một thế kỷ.

Giáo sư Quelch nhấn mạnh, thông qua sự kiện này, HBS mong muốn đội ngũ giảng dạy hiện giờ của trường và các cựu sinh viên sẽ cùng ngồi lại, đưa ra ý kiến cũng như bàn về giải pháp đối với những vấn đề nóng hổi của thời đại như phương pháp lãnh đạo, toàn cầu hoá và thị trường tài chính.

“Bằng việc tạo ra cho các cựu sinh viên một môi trường tham luận giống môi trường giảng đường mà họ đã từng rất đỗi thân thuộc thuở nào, trường HBS kỳ vọng sẽ làm sống dậy trong các cựu sinh viên lòng nhiệt thành đóng góp, xây dựng ý kiến vì sự nghiệp nghiên cứu của trường” - Giáo sư Quelch tiếp lời.

Theo tổng kết của bà Stephanie Goff, Giám đốc Ban Liên lạc Cựu sinh viên trường HBS, mặc dù khi tham gia vào sự kiện này, mỗi cá nhân phải nộp khoản lệ phí 1.500 USD, nhưng danh sách chờ lên tới hơn 250 người.

Để chuẩn bị cho sự kiện này, trường HBS đã khởi động chiến dịch quảng bá từ 18 tháng trước và bất chấp những tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế, số lượng người tham dự không hề sụt giảm.

HBS Centennial 100 Years

“Trước đây, với những sự kiện tầm cỡ như vậy, độ vênh giữa số lượng người đăng ký với số lượng thực tham gia vào phút chót là điều không thể tránh khỏi, nhưng lần này thì không. Khi mà tại hội nghị của trường HBS, những bậc thầy như Niall Ferguson và Larry Summers sẽ cùng bàn về cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Mỹ nói riêng và toàn cầu nói chung”.

Giáo sư F Warren McFarlan – người chủ trì tổ chức hội nghị lần này tại HBS – có đề cập tới sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tình hình tài chính nước Mỹ hiện giờ với thời điểm cách đây 100 năm khi trường mới đi vào hoạt động – đúng sáu tháng sau ngày diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 1907.

Khi cuộc khủng hoảng ngày đó kết thúc cũng là lúc mở đầu cho kỷ nguyên thể chế tài chính hiện đại. Bất ngờ thú vị là vào thời điểm này của một trăm năm sau, chúng ta cũng đang ở trong bước chuyển mình trọng đại của nền kinh tế Hoa Ký nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung.

Ngày kỷ niệm của HBS chính là dịp để tất cả chúng ta cùng “ôn cố tri tân”; đưa ra những nhìn nhận mới về tương lai.

Khuôn viên HBS

Ngài McFarlan nói rằng thách thức thực sự với HBS chính là phải vạch ra đường hướng nghiên cứu từ bây giờ cho tới 50 năm về sau. Đó cũng là lý do trường đã tạo ra một diễn đàn thảo luận về nhiều chủ đề với sự tham gia của nhiều diễn giả có uy tín trên toàn thế giới để họ cùng đóng góp giải pháp cho những vấn đề đó.

“Chúng tôi muốn rằng sau này khoảng 50 năm nữa, thế hệ mai sau thấy được thế hệ đi trước đã không hề thờ ơ trước các vấn đề kinh tế cũng như các xu thế của thời đại. Mong muốn của chúng tôi không gì hơn ngoài việc, thế hệ tiếp bước sẽ nhìn lại những gì chúng ta đang và sẽ hành động ngay từ lúc này đây và nói rằng chúng ta đã đi đúng hướng”.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2008

Kiểm soát nội bộ Phần 2: Kiểm soát Bán hàng và Giao hàng

2.1 Cam kết hợp lý về lịch giao hàng

2.1.1 Rủi ro

Đội ngũ nhân viên bán hàng có thể làm cho công ty cam kết một lịch giao hàng mà nhà máy không thể đáp ứng.

2.1.2 Giải pháp

Công ty nên áp dụng một cách thức là nhân viên bán hàng cần nhận được từ trước sự phê duyệt của phòng kế hoạch sản xuất trước khi cam kết về ngày giao hàng hoặc một cách thức khác là phòng kế hoạch sản xuất định kỳ trình lên phòng kinh doanh bản báo cáo về công suất sản xuất còn lại.

2.2 Nhận đơn đặt hàng đúng với điều khoản và điều kiện

2.2.1 Rủi ro

Đơn đặt hàng có thể được chấp nhận mà có những điều khoản hoặc điều kiện không chính xác hoặc từ khách hàng không được phê duyệt.

2.2.2 Giải pháp

Công ty nên có mẫu đơn đặt hàng chuẩn và mẫu này nên được đánh số trước và phải được người có thẩm quyền ký duyệt khi chấp nhận đơn đặt hàng. Đơn này nên phản ánh cụ thể:

• quy trình bán hàng liên quan;

• từng điều khoản, điều kiện và quy cách cụ thể mà có thể khác nhau giữa các đơn hàng khác nhau;

• đã kiểm tra về việc xác nhận về tình trạng còn hàng và lịch giao hàng; và

• đã kiểm tra chất lượng tín dụng của khách hàng, hoặc, đối với những khách hàng mới thì cần có sự phê duyệt của bộ phận kiểm tra tín dụng hoặc cán bộ phụ trách kiểm tra chất lượng tín dụng khách hàng.

2.3 Áp dụng những chính sách bán chịu và kiểm tra chất lượng tín dụng hợp lý

2.3.1 Rủi ro

Nhân viên bán hàng có thể cấp quá nhiều hạn mức bán chịu cho khách hàng để đẩy mạnh doanh số bán hàng và do đó làm cho công ty phải chịu rủi ro tín dụng quá mức.

2.3.2 Giải pháp

Người hoặc phòng chịu trách nhiệm phê duyệt hạn mức bán chịu nên được tách biệt khỏi người hoặc phòng chịu trách nhiệm bán hàng.

Hơn nữa, công ty nên xác định rõ ràng những chính sách bán chịu phản ánh rủi ro tín dụng liên quan đến thông tin về khách hàng. Trong điều kiện lý tưởng, công ty nên có một hệ thống kiểm tra chất lượng tín dụng của khách hàng. Nhìn chung, công ty nên áp dụng hạn mức bán chịu chặt trẽ hơn đối với những khách hàng chỉ giao dịch một lần và những khách hàng nhỏ, vì nhóm khách hàng này thường có rủi ro không trả được nợ lớn hơn những khách hàng lớn và thường xuyên. Vì các công ty Việt Nam có thể có khó khăn trong việc kiểm tra chất lượng tín dụng của khách hàng nước ngoài, chúng tôi gợi ý các công ty nên luôn luôn dùng L/C đối với khách hàng nước ngoài và ngân hàng phát hành L/C phải lớn và có uy tín.

2.4 Giao chính xác số lượng và loại sản phẩm cho đúng khách hàng

2.4.1 Rủi ro

Công ty có thể giao cho khách hàng số lượng hàng hoặc quy cách không chính xác làm cho khách hang phàn nàn, không chấp nhận hàng hoá đã giao hoặc dẫn đến những chi phí phụ thêm không cần thiết, chẳng hạn như giao hàng thêm lần nữa hoặc phí vận chuyển phụ thêm.

2.4.2 Giải pháp

Bộ phận giao hàng nên lưu giữ nhiều liên của phiếu giao hàng. Các phiếu giao hàng cần được đánh số trước và cần được lập dựa trên đơn đặt hàng đã được phê duyệt. Phiếu giao hàng là một bản ghi về số lượng hàng đã giao và cung cấp các thông tin cần thiết để cho người vận chuyển nội bộ của công ty hoặc công ty vận chuyển bên ngoài có thể tiến hành giao hàng.

Nếu có thể áp dụng được, phiếu giao hàng nên có tham chiếu chéo đến phiếu đóng gói trước khi vận chuyển. Ngoài ra, nếu Công ty sử dụng dãy số hoặc mã vạch thì phiếu giao hàng nên có tham chiếu chéo đến dãy số hoặc mã vạch đó.

Cuối cùng, phiếu giao hàng phải được khách hàng ký để công ty có bằng chứng về khách hàng đã thực tế nhận được hàng và chấp nhận hàng đó.

2.5 Lập hoá đơn chính xác

2.5.1 Rủi ro

Nhân viên lập hoá đơn có thể quên lập một số hoá đơn cho hàng hoá đã giao, lập sai hoá đơn hoặc lập một hoá đơn thành hai lần hoặc lập hoá đơn khống trong khi thực tế không giao hàng.

2.5.2 Giải pháp

Hoá đơn chỉ nên lập căn cứ vào: 1) phiếu giao hàng đã được khách hàng ký nhận; 2) đơn đặt hàng đã được đối chiếu với phiếu giao hàng; và 3) hợp đồng giao hàng, nếu có. Công ty nên ghi lại trên hoá đơn hoặc trên sổ sách kế toán số tham chiếu đến phiếu giao hàng hoặc mã số đơn đặt hàng để giúp kiểm tra tham chiếu.

Công ty nên sử dụng một danh sách giá bán đã được phê duyệt để giúp cho việc ghi chính xác giá bán trên hoá đơn.

Một người độc lập như kế toán thuế hoặc kiểm toán nội bộ nên tiến hành kiểm tra giá bán và việc cộng trừ trên hoá đơn theo cách hoặc là ngẫu nhiên hoặc là đối với những hoá đơn vượt quá một giá trị nhất định.

2.6 Hạch toán đầy đủ và chính xác bán hàng bằng tiền mặt

2.6.1 Rủi ro

Thủ quỹ hoặc nhân viên thu ngân có thể ăn cắp tiền mặt khách hàng thanh toán trước khi khoản tiền mặt đó được ghi nhận là doanh thu.

2.6.2 Giải pháp

Việc sử dụng hoá đơn mỗi khi giao hàng cùng với hệ thống theo dõi hàng tồn kho và kiểm kho định kỳ sẽ giúp đảm bảo phát hiện ra những giao dịch bán hàng mà không hạch toán. Mối nguy hiểm của việc bị phát hiện sẽ làm giảm động lực thủ quỹ hay nhân viên thu ngân ăn cắp tiền.

Khuyến khích khách hàng thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng cũng giúp làm giảm bớt rủi ro và các chi phí hành chính liên quan đến bán hàng bằng tiền mặt.

Việc sử dụng máy đếm tiền điện tử hoặc máy phát hành hoá đơn ở các điểm bán hàng trong một số trường hợp cũng giúp ích vì các máy này in ra biên lai cho khách hàng và bản ghi nội bộ về giao dịch trên tệp tin máy tính hoặc băng từ được khoá trong máy. Tệp tin hoặc băng từ không được để cho thủ quỹ tiếp cận.

Công ty nên tiến hành kiểm tra độc lập về tiền mặt tại quỹ so với tổng số tiền mà thủ quỹ ghi chép hoặc tổng số tiền in ra từ máy đếm tiền hoặc máy phát hành hoá đơn.

Cuối cùng, nên tách biệt chức năng ghi chép việc thu tiền tại điểm bán hàng và chức năng hạch toán thu tiền trên tài khoản.

kiemtoan.com.vn
(Theo Mekongcapital)

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2008

Giới thiệu về Kiểm soát Nội bộ (Phần 1)

Quỹ đầu tư vốn tư nhân (Private Equity) Mekongcapital. Mục đích của báo cáo là nhằm trợ giúp các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thông qua việc thiết lập các thủ tục kiểm soát chặt chẽ.

1.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh

Kiểm soát nội bộ là những phương pháp và chính sách được thiết kế để ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động, và nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình được thiết lập. Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau cho công ty:

Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của công ty;

Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty gây ra;

Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho công ty;

Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công ty; và

Ngăn chặn việc tiếp xúc những rủi ro không cần thiết do quản lý rủi ro chưa đầy đủ.

Thông thường, khi công ty phát triển lên thì lợi ích của một hệ thống kiểm soát nội bộ cũng trở nên to lớn hơn vì người chủ công ty sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc giám sát và kiểm soát các rủi ro này nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm giám sát trực tiếp của bản thân. Đối với những công ty mà có sự tách biệt lớn giữa người quản lý và cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ góp phần tạo nên sự tin tưởng cao của cổ đông. Xét về điểm này, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là một nhân tố của một hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh, và điều này rất quan trọng đối với công ty có nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư sẽ thường trả giá cao hơn cho những công ty có rủi ro thấp hơn.

1.2 Những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công các biện pháp kiểm soát nội bộ

Việc thực hiện thành công các biện pháp kiểm soát nội bộ đòi hỏi một số nguyên tắc chung:

Một môi trường văn hoá nhấn mạnh đến sự chính trực, giá trị đạo đức và phân công trách nhiệm rõ ràng;

Quy trình hoạt động và quy trình kiểm soát nội bộ được xác định rõ ràng bằng văn bản và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ công ty;

Các hoạt động rủi ro được phân tách rõ ràng giữa những nhân viên khác nhau;

Tất cả các giao dịch phải được thực hiện với sự uỷ quyền thích hợp;

Mọi nhân viên đều phải tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ;

Trách nhiệm kiểm tra và giám sát được phân tách rõ ràng;

Định kỳ tiến hành các biện pháp kiểm tra độc lập;

Mọi giao dịch quan trọng phải được ghi lại dưới dạng văn bản;

Định kỳ phải kiểm tra và nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát nội bộ.

1.3 Vai trò của kiểm toán nội bộ

Một số công ty chọn có một “kiểm toán nội bộ” chịu trách nhiệm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ được tuân thủ. Kiểm toán nội bộ không được là thành viên cua phòng kế toán vì các biện pháp kiểm soát nội bộ cũng áp dụng cho cả phòng kế toán.

Cụ thể, kiểm toán nội bộ thường có trách nhiệm kiểm tra:

việc tuân thủ các quy trình và chính sách, vốn là một phần của hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty;

việc tuân thủ các chính sách và quy trình kế toán cũng như việc đánh giá tính chính xác của các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị; và

xác định các rủi ro, các vấn đề và nguồn gốc của việc kém hiệu quả và xây dựng kế hoạch giảm thiểu những điều này.

Kiểm toán nội bộ báo cáo trực tiếp lên Tổng Giám đốc hoặc Hội đồng Quản trị. Do đó, với một kiểm toán nội bộ làm việc hiệu quả, hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty sẽ liên tục được kiểm tra và hoàn thiện.

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có Ban Kiểm soát. Mặc dù vai trò và quyền hạn của Ban Kiểm soát theo Luật Doanh nghiệp không rõ ràng ở một mức nào đó, nhưng có khả năng Ban Kiểm soát đóng vai trò của kiểm toán nội bộ như miêu tả trên.


kiemtoan.com.vn
(Theo Mekongcapital)

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2008

10 điều chưa bao giờ được “dạy”

Bạn đi học nhưng chưa hẳn là được biết tất cả mọi thứ (Ảnh minh họa)

Khi bạn đến trường, có nghĩa là bạn đang vận động trong quá trình thu nạp kiến thức (input), nhưng sau đó là tiếp tục vận hành cho quá trình sản sinh kết quả dùng cho việc nghiên cứu, đi làm… (out put). Nhiều lúc bạn sẽ tự hỏi đây có phải là tất cả những gì chúng ta cần, chúng ta được học? Có thể câu trả lời sẽ không hoàn toàn đúng cho bất kỳ ai, nhưng hãy nhớ rằng chỉ có người biết nhiều, biết ít chứ không ai biết đủ.

1. Tài năng chỉ mang đến 1/3 thành công

Ở bất cứ một lĩnh vực nào, thì nhân tài luôn được trọng dụng nhưng yếu tố này không hề đảm bảo 100% sự thành công. Những giá trị ngang bằng còn đến từ sự chăm chỉ, nỗ lực và may mắn. Làm việc chăm chỉ là khi bạn giữ vững kỷ luật bản thân, đôi lúc cũng phải biết hy sinh mình. Những cơ hội dẫn tới quyền lực, tiền bạc, các mối quan hệ xã hội thiên về sự may mắn. Nên nếu bạn không có tài, bạn vẫn có thể thành công nếu bạn biết xem trọng hai yếu tố trên. Bạn có nghĩ tôi nhầm? Hãy thử nhìn xung quanh mình xem.

2. 95% công việc là “cực hình”

Thường chỉ có 5% công việc ít ỏi thực sự mang đến cho bạn niềm phấn khích. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, bạn hay tập trung và theo đuổi những công việc thú vị. Còn khi bước chân vào thực tế, hầu hết thời gian bạn phải đối mặt với những thứ tẻ nhạt như sổ sách, kiểm tra thông tin, phác thảo vài thứ linh tinh, thương lượng, bán hàng, thu tiền, đóng thuế… Nếu không học được “yêu”, làm “thân” với những thứ gây bực bội để giải quyết chúng một cách “xuôi chèo mát mái” thì bạn sẽ chẳng bao giờ thành công.

3. Nếu mọi thứ đều quan trọng như nhau - Điều đó có nghĩa là chẳng có gì quan trọng cả!

Có thể bạn từng nghe rất nhiều thứ về chi tiết như "God is in the details" hay " Don't sweat the details". (Đừng quá bận lòng với những tiểu tiết). Điều này không sai nhưng cần kèm theo một sự giải thích quan trọng: Luôn cần một thứ tự sắp xếp. Bạn cần chọn ta đâu là việc quan trọng nhất và ưu tiên giải quyết. Tôi đồng ý rằng mọi thứ đều quan trọng nhưng không có nghĩa là mức độ của chúng như nhau.

4. Đừng suy nghĩ quá mức cho một vấn đề

Khi tôi còn là sinh viên, trong khi làm thêm, có một người tôi gọi là “sư phụ” - đó là Steven Izenour. Ông nói rằng tôi đã giải quyết được một đồ án mười tuần chỉ trong vòng một tuần, bây giờ chỉ lo biến nó thành hiện thực nữa thôi. Tất cả những lý luận phê bình mà tôi từng áp dụng trước đó chỉ làm kéo dài và phức tạp thêm vấn đề, trong khi thực chất nó đã được giải quyết. Các designer hay thường bị ám ảnh bởi chính mình, nhưng thỉnh thoảng lại tìm ra một giải pháp thật bất ngờ. .

5. Bắt đầu bằng những thứ bạn biết, rồi giải quyết cái không biết sau

Trong thiết kế, hiểu đơn giản là vẽ ra những gì bạn biết truớc, bạn đã hình dung bắt đầu bằng tất cả những gì bạn hiểu và nắm rõ.

Ví dụ: Thiết kế một chiếc ghế, bạn cần phải biết chiều cao dự tính của người ngồi nó. Những thứ như độ dài, góc nghiêng để tựa, những thứ yêu cầu kèm theo đều có thể ước lượng ra sau. Vậy là đã có thể bắt tay vào thiết kế.

Hầu hết các sinh viên cảm thấy hoảng loạn khi đối mặt với những thứ mình không rõ và không thể kiểm soát. Cách tốt nhất là quên nó đi. Bắt đầu mọi thứ từ cái mình biết, mình hiểu rồi giải quyết lần lượt từng thứ không biết. Đây chính là quy luật quan trọng nhất trong thiết kế. Bạn hãy thử xem, sẽ thấy hiệu quả đấy.

6. Đừng quên mục đích của mình

Hầu hết các bạn sinh viên và nhất là các designer trẻ thường tiếp cận vấn đề bằng sự thấu hiểu và sáng suốt, sau đó lại để tuột nó trong sự bối rối, lo lắng và những cố gắng thừa thãi. Họ quên mất mục đích của mình, rồi lại cố tạo các mục đích mới. Các ý tưởng ban đầu gần như một quà tặng “từ trên trời rơi xuống”. Đừng lãng phí nó chỉ bằng cách ghi lại trên những tờ giấy vụn.
Không quên mục đích của mình, đó chính là chìa khóa mở những cánh cửa thành công

7. Khi bạn quăng mình đi cũng là lúc bạn sẽ mất cân bằng

Quá tự tin cũng tệ như là kém tự tin vậy. Hãy học cách khiêm tốn khi tiếp cận một vấn đề. Hãy nhận biết và chấp nhận những thứ bạn không biết và làm việc thật cần cù để bù lấp. Người ta chẳng hay nói “luôn cần học hỏi” đấy sao, tức là “muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học”.

Thứ quyền lực tạo ra sự vật và áp đặt nó vào thế giới là một đặc ân. Vì vậy đừng quá lạm dụng, đừng đánh giá thấp những khó khăn, nó vừa làm bạn yếu đi nhưng cũng làm bạn mạnh hơn.

8. Không có hành động tốt nào mà không trả giá

Thế giới đã không còn được chuẩn bị để nâng niu những thứ tuyệt vời nhất hay chống chọi với những thứ tệ hại. Không thể dựa dẫm vào các sáng tạo hay sự xuất sắc vì nếu làm vậy hệ thống xã hội sẽ trở nên khó đoán và bấp bênh hơn. Điều cần thiết lại là sự cân bằng và dễ tiên liệu.

Những ý tưởng sáng tạo chắc chắn phải chịu nhiều thử thách và cần cố gắng lớn mới có thể đi đến thành công. Hầu hết các bạn sẽ nếm trải đủ mọi mùi vị, cung bậc của sự thất bại thế nên cứ làm thật nhiệt huyết đi, làm để thất bại, để bị đẩy lùi và để thành công. Đừng bao giờ đánh giá thấp đối thủ vì nếu bạn tin vào sự tuyệt hảo, thì có lẽ đối thủ của bạn sẽ là chính điều đó.

9. Tất cả đều phải “sản xuất”

Không cần biết máy tính của bạn chạy tốt như thế nào, bài luận của bạn hay như thế nào, hay điểm của bạn xuất sắc như thế nào nhưng nếu bạn không thể sản xuất, không thể phân phối, và làm cho sản phẩm được biết đến thì cơ bản bạn vẫn “vô hình”. Hãy đặt chính mình vào sản phẩm đó, lên kế hoạch và cho tất cả mọi người thèm khát nó đi!

10. Cả thế giới còn lại đều liên quan

Nhiều khi bạn muốn hoàn thành một điều gì, bạn chắc chắn phải cần đến những bạn học mà bạn từng ghét thời trung học. Tôi đã từng tham gia vào một trường thiết kế mà ở đó, họ cho rằng: "Một khi bạn học ở đây, bạn là quan trọng nhất, thế giới còn lại đều không đáng bận tâm". Không một người nào từ ngôi trường đó mà tôi biết thành công khi tốt nghiệp và bước vào cuộc sống. Thật ra kết quả này bắt nguồn từ tu duy quản lý khiến người ta coi thường kẻ khác.

Bất kể mẫu thiết kế của bạn xuất sắc đến mức nào, phải xem có ai đó muốn sản xuất nó, ai đó thèm mua nó, ai đó thích dùng nó... Hãy tôn trọng tất cả mọi người, dù cho đó là những người bạn ghét nhất vì đơn giản, bạn vẫn luôn cần họ.

theo www.dantri.com.vn

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2008

Góc khuất phía sau giảng đường đại học

Sự thật nào đang diễn ra trong các trường đại học? Chúng tôi sẽ đem lại câu trả lời đó cho các độc giả qua những thước phim, bức ảnh chân thực nhất mà những phóng viên đã “đích mục sở thị” khi “vào vai” sinh viên tại một số trường đại học.

Sự thật của giáo dục đại học Việt Nam ở những năm đầu thế kỷ 21 là gì khi vẫn còn tràn lan những giảng đường đọc chép, những giờ học buồn tẻ thậm chí là dở khóc, dở cười với những sinh viên đi muộn, coi thường giảng viên bằng cách nói chuyện, ăn uống, cười đùa trong giờ học…

Rồi những cuốn giáo trình cổ lỗ đã có tuổi đời 40 năm, những phương pháp giảng dạy đổi mới được “ngụy trang” bằng những máy móc hiện đại nhưng giảng viên vẫn đọc cho sinh viên chép, vẫn áp đặt kiến thức một chiều, vẫn nghĩ vai trò của mình là ông Thánh trong lâu đài trí thức, vẫn mải mê “chạy sô” kiếm sống vài ba trường một lúc rồi bỏ rơi chất lượng nghiên cứu và giảng dạy…

Kết quả xã hội phải gồng mình đón nhận những sản phẩm “lỗi”, những sản phẩm “hỏng” chỉ giỏi giết rồng nhưng không thể “tìm rồng” mà giết… Điều cảnh báo lớn hơn mà chúng tôi muốn đặt ra trong chuyên đề này, như lời lá thư một sinh viên đã thống thiết viết cho chúng tôi, là cách giáo dục lạc hậu, áp đặt như hiện tại đã, đang và sẽ giết chết những giấc mơ, những khát vọng và sự trưởng thành thành những cá nhân độc lập, sáng tạo, dám nghĩ, dám lựa chọn và chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình!

Bài 1: Thầy không lo, trò không học

Có tận mục một giờ học lớp tại chức (Kế toán K40, DK2 –ĐH Thương mại), chứng kiến những gương mặt thất thần sau ngày làm việc, tóc tai bù xù, bụng mang dạ chửa, bánh mỳ sữa tươi, ngáp dài thiếu ngủ của sinh viên nơi này mới thấm thía hết góc tối đằng sau đó.

Thời gian trước, có một đoạn băng quảng cáo được phát trên truyền hình tối tối rất được các bạn trẻ thích thú vì độ “xì tin” của nó. Ngay từ phân cảnh đầu tiên, đạo diễn đã cho phát hình một lớp học với đa phần sinh viên đang… ngủ. Thầy giáo thì ê a bài “ca rao” dài dằng dặc. Có thể đấy chỉ là sự ‘thổi phồng” của nhà quảng cáo nhưng tôi chắc rằng ý tưởng này đã được hình thành dựa trên một thực tế rất đáng buồn của giáo dục đại học nước ta hiện nay.

Trước giờ vào lớp…

Câu chuyện được bắt đầu vào một tối đẹp trời nọ. Trăng rất cao, đèn đường thì rất sáng. Và dĩ nhiên, những sinh viên tại chức, vốn đã có cả một ngày dài ở công sở rất muốn được xả “xì trét” vào bầu không khí dễ chịu ấy. Thế nên, đến lớp thật, nhưng những cuộc trò chuyện của họ đều xuýt xoa quanh cái lạnh dễ chịu, tô phở nghi ngút… ngoài đường. T – hiện đang làm tại Ngân hàng Á Châu ACB tiếc rẻ: “Giá tuần trước không nghỉ, thì hôm nay có phải được vi vu rồi không?”. Rồi quay sang một chị đang nhồm nhoàm miếng bánh mỳ bảo: “Giá được nghỉ thì thích nhỉ”.

Đó cũng là mơ ước chung của phần đông sinh viên tại chức lớp Kế Toán Doanh nghiệp – Đại học Thương mại Hà Nội. Thì đấy, ngay bàn đầu, vừa vào lớp, còn nhễ nhại mồ hôi vì phải chen nhau với “một đống” trong thang máy hay leo bộ 6 tầng lên lớp, 3 chị đã kịp gục xuống bàn… ngon lành ngủ. Chúng tôi chỉ đoán rằng, trong giấc mơ ngắn của họ kia, không có tí ti nào của bài học sắp tới, cũng chẳng có chút nào bóng dáng thầy cô. Mà nó sẽ là giấc mơ trắng – nghĩa là tịnh không có điều gì. Chỉ thiêm thiếp vì quá tải.

Cũng đã từng là sinh viên, từng bày ra đủ trò để nghịch trước mỗi giờ lên lớp, từng len lén chạy ra cửa trà đá với đám bạn; nhưng nhìn những người đang ngồi, nằm, mơ và … nhăn nhó trước mặt lúc này, chúng tôi cũng chỉ biết rùng mình mà… sợ. Hình như, với họ, học đêm là một việc cực chẳng đã, nặng nề vô tận.
Mà kể ra không thế mới lạ. Có bao nhiêu lớp tại chức là có bấy nhiêu cảnh bi hài. Một chị chửa gần vượt mặt, khệ nệ leo thang lên lớp; vừa đi vừa phì phò phì phò thở. Một anh tóc tai dựng ngược vì phi xe tít tận Linh Đàm về lớp, đúng kiểu quảng cáo dầu gội giữ nếp. Một bác thì vừa đi vừa lẩm nhẩm điều gì không rõ, nét mặt đăm đăm như kiểu một nhà thơ đang tìm tứ trong thang máy đầy người… Nghĩa là, không ở đâu rõ thế, cái không khí của “phiên chợ người” hiển hiện như trong buổi tối đẹp trời trong cầu thang trường tại chức.

Lại nói về “sự đẹp trời” của buổi tối hôm nay, T. – anh chàng cao to nhất lớp kế toán bỗng đâu lôi ra bàn một tập tài liệu tí ti, ruột mèo có, dọc có, ngang có được viết rất công phu ngay ngắn. Khi được hỏi, anh cười thủng thẳng: “Một tối thế này, phải ngồi trong lớp thì không có gì thú vị hơn việc chuẩn bị phao cho môn thi sắp tới?”. Ờ phải, một buổi tối như hôm nay, ngồi trong không khí vui vẻ chừng này, mà phải học thì phí rượu thật. Phải làm điều gì khác chứ, phải lạc điệu một chút như “con nai vàng ngơ ngác” trong thơ của Lưu Trọng Lư vậy.

Thế là, vào một ngày đẹp trời kia, hai đứa chúng tôi – lơ ngơ cặp sách, mắt nai… để hòa vào cái lơ ngơ học, lơ ngơ ngó trời và mãnh liệt ước muốn được chạy ra… đường của hơn 80 sinh viên tại chức trong một lớp của trường ĐH Thương mại.

Trong giờ học…

Theo lịch, đúng 6h 30 giờ học sẽ bắt đầu. Nhưng đã 7h kém, lớp gần đông đủ mà giáo viên vẫn chưa thấy đâu. Sinh viên khấp khởi mừng húm vì viễn cảnh được nghỉ. Bác già nhất quay sang cạnh ngoắc ngoắc lớp trưởng: “Cô đến muộn 15 phút thì về em nhé.” Rồi với vẻ mặt rất nhà thơ của mình, bác lại đăm chiêu với những suy nghĩ gì không rõ. Nhưng. Đúng cái lúc cả lớp đang “nín thở” chờ đến giờ hoàng đạo (kiểu như dân mình chờ giao thừa) thì cô giáo xuất hiện. Áo đen, tóc mới gội còn thơm phức, cặp xách tay, và đặc biệt trẻ hơn rất nhiều sinh viên trong lớp ấy.

Giờ học bắt đầu trong những cái thở dài luyến tiếc.

Tài liệu phục vụ "quay cóp"? -(Ảnh: Sơn Hà)

Nhân chuyện giáo viên đến lớp muộn mà không báo trước cho sinh viên, theo quy định của Luật giáo dục sẽ bị trừ lương và khiển trách. Nhưng hình như đó chỉ là chuyện của các lớp chính quy, còn ở đây không thế. Bởi, với những bác, anh và chị ngồi và nằm, ăn và ngáp, cô đến muộn bao nhiêu là bớt được thời gian học bấy nhiêu.

Giáo viên đã đến muộn, tất nhiên sinh viên cũng có thể có cái “quyền lợi” ấy. Và đến lúc này chúng tôi lại càng cảm phục các nhà quảng cáo vì đã “cách điệu” đúng quá cái không khí vui vẻ của lớp học tại chức. Bởi, cảnh chành trai vừa nhai Cool Air, đợi thầy viết bảng đi ngược vào lớp trong đoạn phim nọ giống thực tế quá. Cứ chốc chốc, lớp lại có một sinh viên nhai kẹo có, xôi có… mà không nhai cũng có, lừng lững tiến vào. Cô thì vẫn cứ nói như không.

Vẫn chuyện về các nhà quảng cáo, xin phép được quay lại với đoạn băng “xì tin” ban đầu. Tại sao chỉ có cảnh sinh viên ngủ, thầy giáo ê a như đọc tam tự kinh mà giới trẻ thú vị để đổ xô đi mua kẹo cao su? Tôi đoán chừng, không phải vì slogan “ăn kẹo giúp tăng hiệu quả làm việc và học tập” vô thưởng vô phạt cuối băng. Cũng không phải vì nó ấn tượng. Mà vì nó QUÁ ĐÚNG với họ.

Thì đấy, giảng viên trẻ măng thao thao với micro mà không cần biết đến việc sinh viên tiếp thu được đến đâu. Chỉ đọc, ghi phấn và hết. Còn sinh viên sẽ có đủ việc, đủ lý do để chán học. Họ đã cố chia nhau những viên kẹo cao su xanh đỏ để “tăng hiệu quả” “chống buồn ngủ” “tập trung hơn” nhưng đều vô hiệu. Có người nằm bò ra bàn, nửa mơ ngủ, nửa cầm bút chép bài. Có người thể hiện cá tính bằng cách khoe điện thoại, trêu nhau.

Chỗ khác, để tăng khả năng trí tuệ, N. (đã hơn một tuần không đến lớp) chăm chú vào ô Sodoku của mình. Chúng tôi đã cố bắt chuyện với anh chàng này và được biết đến lúc thi chủ yếu là quay được nên không cần phải học.

Đâu là nguyên nhân của tình trạng sinh viên các lớp tại chức không cần và cũng không muốn học? N. cho biết: “Thứ nhất, các thầy cô cũng biết mình học chủ yếu để lấy bằng nên cũng không mấy chặt chẽ. Hơn thế, có muốn học cũng không thể học được, vì cô giảng quá vắn tắt, sinh viên không có cơ hội để hỏi hay tìm hiểu kỹ chỗ mình chưa hiểu được.”

... và nguyên nhân mà ai cũng biết

Vấn đề có lẽ trước hết nằm ở cách thức truyền đạt cho sinh viên. Giờ học kéo dài hơn một giờ đồng hồ nhưng chỉ thấy toàn đọc – chép. Từ khái niệm Kế toán là gì, các nguyên tắc kế toán… được phát ra đều đặn nhanh dần theo nhịp chạy của thời gian. Nhanh đến độ, chúng tôi đã chủ tâm (hay thành ý?) tốc ký mà vẫn chịu không theo hết được. Có cảm giác, với cô, căn phòng 80 người đã biến mất, chỉ còn cây mircro làm bạn. Thành thử, hầu hết sinh viên không theo kịp bài giảng, đành phải ngồi, và làm đủ thứ như đã nói đến ở trên.


“Đích mục sở thị” một giờ học tại chức tại một trong những trường đại học đào tạo ra những cử nhân kinh tế lớn nhất đất nước, tôi chợt nhớ về một bài báo có tên “Đại học Việt Nam đang đứng ở đâu?” (Tạp chí Toàn Cảnh & Sự Kiện – số 212 tháng 3 – 2008) và được biết một vị PGS – TS tên là Phillip Doughty (ĐH Syracuse – Mỹ) sau chuyến khảo sát tại một số trường ĐH Việt Nam đã cho rằng: Các bài giảng được thiết kế không dựa trên những mong đợi rõ ràng của sinh viên ở “đầu ra”.

Thế nên sinh viên không mấy hứng thú với chương trình, nhất là chương trình dạy theo kiểu “truyền đạo một chiều” hiện nay. Sản phẩm cuối cùng của hàng chục, hàng trăm lò đào tạo tại chức, chuyên tu…như thế này là những cái máy chỉ biết đọc và chép, những cá nhân thụ động, lạc hậu, sống cam chịu và vâng lời trước sự áp đặt của những người khác. Và rồi, mỉa mai thay, các nhà quảng cáo, các nhà làm phim lại có được những cuốn phim “danh bất hư truyền” về giáo dục đại học Việt Nam truyền lại cho các lớp hậu thế làm tư liệu về một thời như thế….

Người học, người ngủ - (Ảnh: Sơn Hà)

Nhưng đó chưa phải là điểm đáng lưu tâm nhất. Bất ngờ nằm ở chỗ, chính giảng viên đứng lớp cũng thừa nhận thẳng thắn rằng mình chưa hiểu hết bài(?). Khi dạy đến nguyên tắc giá gốc (nguyên tắc kế toán) giảng viên “hồn nhiên” với 80 con người đang chờ được giải đáp thế này: “Về nguyên tắc giá gốc thực sự tôi cũng chưa hiểu lắm, đại loại là…”. Và, cái đại loại là ấy cứ tiếp diễn đến tận 4 – 5 phút trong suốt một tiết học. H. – một học viên ngao ngán: “Thế này thì đến lớp làm gì không biết”.

theo: xaluan.com